Hoạt động trồng trọt không chỉ chịu sự điều chỉnh của một đạo luật riêng lẻ mà còn liên quan đến giống cây, phân bón, bảo vệ thực vật, đất trồng lúa, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm. Trong năm 2026, nhiều quy định đã được sửa đổi, trong khi một số thay đổi khác chỉ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Để phân biệt rõ nội dung đang áp dụng và quy định sắp có hiệu lực, hãy cùng SIAM Brothers Việt Nam tìm hiểu…
Lưu ý: Bài viết được cập nhật theo hệ thống văn bản được công bố đến ngày 03/11/2026 và chỉ cung cấp thông tin tổng hợp. Khi áp dụng cho một hồ sơ, giấy phép hoặc hoạt động sản xuất cụ thể, tổ chức và cá nhân cần kiểm tra văn bản gốc, quy định chuyển tiếp và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Hoạt động trồng trọt chịu sự điều chỉnh của nhiều nhóm quy định, từ giống cây và phân bón đến truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm.
Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 19/11/2018 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Luật điều chỉnh các hoạt động chính gồm giống cây trồng, phân bón, canh tác, thu hoạch, mua bán, sơ chế sản phẩm cây trồng và quản lý nhà nước về trồng trọt.
Tuy nhiên, bản Luật Trồng trọt năm 2018 không còn phản ánh đầy đủ toàn bộ quy định hiện hành nếu được đọc độc lập. Luật này đã được sửa đổi bởi Luật số 146/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, và tiếp tục được sửa đổi bởi Luật số 21/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Vì vậy, khi tổng hợp quy định về trồng trọt, cần xác định rõ thời điểm áp dụng. Một nội dung đã được Quốc hội thông qua chưa đồng nghĩa nội dung đó đã có hiệu lực tại thời điểm tra cứu.
Đối với hoạt động diễn ra tại thời điểm ngày 03/11/2026, căn cứ luật chính là Luật Trồng trọt 2018 sau khi được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15.
Văn bản hợp nhất số 93/VBHN-VPQH ngày 31/3/2026 đã tập hợp Luật Trồng trọt 2018 và các sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Đây là tài liệu thuận tiện để tra cứu những quy định đang được áp dụng trong phần lớn năm 2026.
Bên cạnh luật, người sản xuất và doanh nghiệp còn phải kiểm tra các nghị định, thông tư về giống cây trồng, phân bón, canh tác, đất trồng lúa, bảo vệ thực vật, nông nghiệp hữu cơ và xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 25/9/2026, Văn phòng Quốc hội ban hành Văn bản hợp nhất số 152/2026/VBHN-LQ-VPQH. Đây là bản hợp nhất mới hơn, bao gồm:
Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14;
Luật số 146/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026;
Luật số 21/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Văn bản hợp nhất không tạo ra hiệu lực pháp lý mới và cũng không làm cho các điều khoản chưa đến ngày có hiệu lực được áp dụng sớm hơn. Do đó, khi sử dụng Văn bản hợp nhất 152 trong năm 2026, cần đọc chú thích tại từng điều để nhận biết nội dung nào đang có hiệu lực và nội dung nào chỉ áp dụng từ năm 2027.
Pháp luật phân biệt giống thuộc loài cây trồng chính và giống không thuộc loài cây trồng chính. Tùy từng nhóm và mục đích sử dụng, giống cây có thể liên quan đến thủ tục công nhận lưu hành, công nhận lưu hành đặc cách hoặc tự công bố theo quy định.
Một số trường hợp phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm, trao đổi quốc tế hoặc sản xuất hạt lai để xuất khẩu có thể được áp dụng quy định riêng. Vì vậy, không nên khẳng định chung rằng mọi giống cây trồng đều phải trải qua cùng một quy trình trước khi được sản xuất hoặc đưa ra thị trường.
Tổ chức, cá nhân cần xác định:
Loài cây có thuộc danh mục loài cây trồng chính hay không;
Mục đích sản xuất, nhập khẩu hoặc lưu hành giống;
Giống đã có quyết định công nhận hay chưa;
Có thuộc trường hợp được tự công bố hoặc miễn thực hiện một số thủ tục hay không;
Quy định chuyển tiếp có áp dụng với giống đã lưu hành trước năm 2026 hay không.
Luật số 146/2025/QH15 quy định chuyển tiếp đối với quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng, quyết định gia hạn, quyết định công nhận giống mới và quyết định công nhận đặc cách giống cây trồng biến đổi gen được cấp trước ngày 01/01/2026.
Theo đó, các quyết định này được tiếp tục sử dụng trong thời hạn:
20 năm đối với giống cây trồng hằng năm;
25 năm đối với giống cây trồng lâu năm.
Thời hạn được tính từ ngày quyết định được cấp. Việc gia hạn tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Trồng trọt đã được sửa đổi.
Đây là thời hạn pháp lý của quyết định công nhận, không phải khẳng định về tuổi thọ sinh học, khả năng sinh trưởng hoặc thời gian khai thác thực tế của giống cây.
Tổ chức, cá nhân sản xuất giống phải tuân thủ tiêu chuẩn áp dụng cho phương pháp nhân giống và từng nhóm cây. Trường hợp cung cấp vật liệu nhân giống vô tính đối với một số cây ăn quả lâu năm hoặc cây công nghiệp lâu năm, cây và vườn cây cung cấp vật liệu có thể phải được công nhận là cây đầu dòng hoặc vườn cây đầu dòng.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh giống, các nghĩa vụ quan trọng bao gồm:
Cung cấp thông tin về nguồn gốc vật liệu nhân giống;
Lưu giữ tài liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc;
Ghi nhãn theo quy định;
Công bố hợp chuẩn hoặc hợp quy trong trường hợp được yêu cầu;
Kiểm soát chất lượng lô giống;
Thu hồi và xử lý giống không bảo đảm chất lượng;
Bồi thường thiệt hại nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại theo quy định pháp luật.
Giống nhìn bên ngoài khỏe mạnh không đương nhiên đáp ứng điều kiện lưu hành. Tính hợp pháp còn phụ thuộc hồ sơ, nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và phạm vi được phép sản xuất hoặc kinh doanh.
Hai nhóm khảo nghiệm thường được nhắc đến trong quản lý giống gồm:
Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng;
Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định.
Phương pháp, tiêu chuẩn và yêu cầu khảo nghiệm phụ thuộc loại giống và quy định tại từng thời điểm. Luật số 21/2026/QH16 tiếp tục thay đổi cơ chế khảo nghiệm và tổ chức khảo nghiệm, nhưng các nội dung này chỉ bắt đầu áp dụng từ ngày 01/01/2027.

Giống cây trồng cần được kiểm soát từ nguồn vật liệu nhân giống đến quá trình sản xuất, lưu hành và truy xuất lô giống.
Tổ chức sản xuất phân bón phải đáp ứng điều kiện pháp luật và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Việc quản lý không chỉ dừng ở cơ sở vật chất. Tùy hoạt động thực tế, tổ chức sản xuất còn phải kiểm soát nguyên liệu, quy trình, chất lượng sản phẩm, ghi nhãn, hồ sơ truy xuất và trách nhiệm thu hồi sản phẩm không phù hợp.
Phân bón được sản xuất tại một cơ sở hợp pháp cũng không mặc nhiên được lưu hành nếu sản phẩm chưa hoàn thành yêu cầu công nhận, khảo nghiệm hoặc thủ tục tương ứng.
Phân bón thuộc trường hợp luật quy định phải được công nhận lưu hành tại Việt Nam trước khi đưa ra thị trường. Một số loại phân bón phải khảo nghiệm trước khi được công nhận; một số nhóm đáp ứng điều kiện cụ thể có thể được miễn khảo nghiệm.
Các trường hợp miễn khảo nghiệm không nên được hiểu là miễn toàn bộ yêu cầu về chất lượng. Sản phẩm vẫn phải đáp ứng chỉ tiêu chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn và các nghĩa vụ khác liên quan.
Khi quyết định công nhận bị hủy bỏ, tổ chức và cá nhân phải chấm dứt việc sản xuất, nhập khẩu, mua bán hoặc sử dụng sản phẩm kể từ thời điểm quyết định hủy bỏ có hiệu lực.
Người sử dụng cần lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc và thông tin rõ ràng, sử dụng theo hướng dẫn và không dùng sản phẩm đã bị cấm, bị hủy bỏ quyết định công nhận hoặc không đáp ứng yêu cầu chất lượng.
Việc sử dụng quá liều, sai mục đích hoặc trộn các loại phân bón tùy tiện có thể ảnh hưởng đến cây trồng, đất, nguồn nước và chất lượng nông sản. Tuân thủ pháp luật vì vậy cần đi cùng hướng dẫn kỹ thuật và điều kiện thực tế của từng vùng canh tác.
Luật số 21/2026/QH16 bãi bỏ một số điều kiện kinh doanh đối với hoạt động buôn bán phân bón và giống cây trồng. Tuy nhiên, thay đổi này có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Việc bãi bỏ điều kiện buôn bán không đồng nghĩa thị trường không còn được quản lý. Nghĩa vụ về chất lượng, nguồn gốc, nhãn hàng hóa, thu hồi sản phẩm, chống hàng giả và trách nhiệm bồi thường vẫn được thực hiện theo Luật Trồng trọt và các luật liên quan.
Đồng thời, điều kiện sản xuất giống cây trồng và điều kiện sản xuất phân bón không bị bãi bỏ.

Phân bón cần được kiểm soát xuyên suốt từ khâu sản xuất, lưu hành đến sử dụng đúng lượng tại đồng ruộng.
Giống cây trồng và phân bón chủ yếu được quản lý theo Luật Trồng trọt. Trong khi đó, thuốc bảo vệ thực vật, phòng trừ sinh vật gây hại và kiểm dịch thực vật còn chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Người sản xuất cần phân biệt các nhóm vật tư này vì điều kiện lưu hành, hướng dẫn sử dụng và cơ chế kiểm soát không giống nhau.
Đối với thuốc bảo vệ thực vật, cần chú ý:
Chỉ sử dụng sản phẩm được phép sử dụng;
Tuân thủ đúng đối tượng, liều lượng và phương pháp;
Bảo đảm thời gian cách ly;
Không sử dụng sản phẩm cấm hoặc không rõ nguồn gốc;
Thu gom bao bì sau sử dụng theo quy định;
Không để thuốc rò rỉ hoặc gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
Đối với vùng nguyên liệu, vùng sản xuất tập trung hoặc sản phẩm phục vụ xuất khẩu, việc ghi chép quá trình canh tác ngày càng quan trọng.
Hồ sơ có thể bao gồm:
Giống và nguồn cung cấp giống;
Thời điểm gieo trồng;
Loại phân bón và lượng sử dụng;
Thuốc bảo vệ thực vật và thời gian sử dụng;
Tình hình sinh vật gây hại;
Thời gian thu hoạch;
Sản lượng và lô sản phẩm;
Đơn vị thu mua hoặc cơ sở đóng gói.
Ghi chép không chỉ phục vụ cơ quan quản lý mà còn giúp khoanh vùng nguyên nhân khi sản phẩm không đáp ứng yêu cầu chất lượng hoặc bị cảnh báo tại thị trường tiêu thụ.
Rơm rạ, thân cây, vỏ, lá, lõi và các phần còn lại sau thu hoạch có thể được thu gom để tái sử dụng, chế biến, làm thức ăn chăn nuôi, sản xuất phân bón, giá thể, nhiên liệu hoặc phục vụ mục đích phù hợp khác.
Việc xử lý phải hạn chế phát tán khói, bụi, mùi, nước thải và sinh vật gây hại. Không nên đốt hoặc thải bỏ phụ phẩm tùy tiện nếu hoạt động đó gây ô nhiễm, cản trở giao thông hoặc làm ảnh hưởng đến khu vực xung quanh.
Với phụ phẩm có dấu hiệu nhiễm sinh vật gây hại hoặc hóa chất, cần đánh giá trước khi tái sử dụng. Không phải mọi phụ phẩm đều phù hợp để làm phân bón, thức ăn chăn nuôi hoặc vật liệu tiếp xúc trực tiếp với cây trồng.
Hoạt động thu hoạch cần được tổ chức vào thời điểm phù hợp, sử dụng dụng cụ và phương pháp hạn chế làm hư hỏng sản phẩm. Quá trình sơ chế, bảo quản không được sử dụng chất cấm hoặc hóa chất ngoài phạm vi cho phép.
Đối với sản phẩm có mã số vùng trồng hoặc phục vụ xuất khẩu, cần duy trì khả năng nhận diện lô hàng từ vùng sản xuất đến cơ sở đóng gói. Việc trộn sản phẩm không rõ nguồn gốc vào một lô đã được quản lý có thể làm mất khả năng truy xuất và ảnh hưởng đến toàn bộ lô hàng.

Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói hỗ trợ theo dõi sản phẩm từ khu vực sản xuất đến lô hàng thành phẩm.
Mã số vùng trồng giúp nhận diện khu vực sản xuất một loại cây tại vị trí xác định, phục vụ quản lý, giám sát và truy xuất nguồn gốc.
Mã số này không xác lập hoặc thay thế quyền sử dụng đất. Được cấp mã số vùng trồng cũng không đồng nghĩa sản phẩm tự động đáp ứng mọi tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm hoặc yêu cầu nhập khẩu.
Tùy thị trường, vùng trồng còn có thể phải đáp ứng yêu cầu riêng về kiểm soát sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, ghi chép canh tác và tần suất giám sát.
Sau khi được cấp mã số, tổ chức hoặc cá nhân quản lý vùng trồng cần duy trì thông tin đã đăng ký và tạo điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát.
Những nội dung quan trọng gồm:
Duy trì đúng vị trí và loại cây đã đăng ký;
Ghi chép quá trình sản xuất;
Kiểm soát sinh vật gây hại;
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định;
Bảo đảm khả năng truy xuất lô sản phẩm;
Khắc phục sai sót được phát hiện qua kiểm tra;
Thông báo khi có thay đổi ảnh hưởng đến điều kiện của vùng trồng.
Cơ sở đóng gói là mắt xích tiếp nhận, phân loại, sơ chế, đóng gói, bảo quản và chuyển sản phẩm sang giai đoạn lưu thông hoặc xuất khẩu.
Để duy trì mã số, cơ sở cần kiểm soát nguồn nguyên liệu, điều kiện vệ sinh, sinh vật gây hại, hồ sơ lô hàng và khả năng truy xuất. Việc sử dụng chung một mã số cho sản phẩm ngoài phạm vi hoặc không rõ nguồn gốc có thể dẫn đến đình chỉ, thu hồi hoặc các biện pháp xử lý khác.
Nghị định số 112/2024/NĐ-CP là văn bản quan trọng quy định chi tiết về đất trồng lúa. Người sử dụng đất có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích, duy trì điều kiện phù hợp cho việc trồng lúa và không thực hiện hoạt động làm suy giảm chất lượng đất trái quy định.
Trong trường hợp sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác được cơ quan có thẩm quyền cho phép, tổ chức và cá nhân có thể phải thực hiện nghĩa vụ liên quan đến bảo vệ tầng đất mặt, cải tạo đất hoặc nghĩa vụ tài chính.
Pháp luật cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa nếu đáp ứng điều kiện. Tuy nhiên, hoạt động này không đương nhiên làm thay đổi mục đích sử dụng đất đã được xác định.
Phương án chuyển đổi cần bảo đảm:
Không làm mất điều kiện cần thiết để có thể trồng lúa trở lại;
Không gây ô nhiễm hoặc thoái hóa đất;
Không làm hư hỏng công trình thủy lợi, giao thông nội đồng;
Phù hợp kế hoạch chuyển đổi của cơ quan có thẩm quyền;
Thực hiện đăng ký hoặc thủ tục cần thiết.
Nếu xây dựng công trình hoặc sử dụng đất theo cách làm thay đổi mục đích lâu dài, người sử dụng không thể chỉ dựa vào quy định về chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà cần kiểm tra thủ tục đất đai riêng.
Một cơ sở hạn chế thuốc hóa học hoặc sử dụng phân hữu cơ không đồng nghĩa sản phẩm đã đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ.
Sản xuất hữu cơ liên quan đến tiêu chuẩn áp dụng, quản lý đầu vào, quá trình chuyển đổi, phòng ngừa nhiễm chéo, kiểm soát hồ sơ và hoạt động chứng nhận trong trường hợp được yêu cầu.
Cần phân biệt:
Sản xuất theo hướng hữu cơ;
Sử dụng một số vật tư hữu cơ;
Sản phẩm được chứng nhận hữu cơ;
Sản phẩm được phép ghi nhãn và quảng bá là hữu cơ.
Tổ chức và cá nhân không nên sử dụng từ “hữu cơ” trên nhãn hoặc nội dung quảng cáo nếu sản phẩm chưa đáp ứng tiêu chuẩn và điều kiện pháp luật tương ứng.
Thông tin về phương pháp canh tác cần được trình bày chính xác. Những cụm từ như “tự nhiên”, “xanh”, “sạch” hoặc “không hóa chất” không tự động thay thế cho chứng nhận hữu cơ và cũng không phải lúc nào cũng có ý nghĩa pháp lý giống nhau.
Nghị định số 214/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/8/2026, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Các nhóm hành vi được điều chỉnh có thể liên quan đến:
Sản xuất và kinh doanh giống cây trồng;
Cây đầu dòng và vườn cây đầu dòng;
Sản xuất, nhập khẩu và buôn bán phân bón;
Chất lượng, nhãn và nguồn gốc sản phẩm;
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật;
Kiểm dịch thực vật;
Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói;
Không thu hồi hoặc xử lý sản phẩm vi phạm.
Tùy hành vi và mức độ vi phạm, tổ chức hoặc cá nhân có thể bị áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục như:
Phạt tiền;
Đình chỉ hoạt động;
Tước hoặc đình chỉ sử dụng giấy chứng nhận;
Buộc thu hồi hàng hóa;
Buộc tiêu hủy sản phẩm;
Buộc sửa đổi hoặc loại bỏ thông tin sai;
Buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp;
Buộc khôi phục tình trạng ban đầu hoặc khắc phục hậu quả.
Mức phạt cụ thể phải được xác định theo đúng hành vi, chủ thể, quy mô, tình tiết và hậu quả. Không nên lấy một mức phạt tối đa của nhóm vi phạm để áp dụng cho mọi trường hợp.

Một số thay đổi về lưu hành giống, khảo nghiệm và điều kiện kinh doanh đã được ban hành nhưng chỉ bắt đầu áp dụng từ ngày 01/01/2027.
Luật số 21/2026/QH16 sửa đổi Điều 17 của Luật Trồng trọt theo hướng tổ chức, cá nhân tự công bố lưu hành giống cây trồng và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của thông tin đã công bố.
Cơ chế này thể hiện sự chuyển dịch từ tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, tự công bố không có nghĩa được miễn trách nhiệm về chất lượng, nguồn gốc hoặc tính chính xác của hồ sơ.
Từ năm 2027, khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia; trường hợp chưa có tiêu chuẩn quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn cơ sở.
Khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc tài liệu hướng dẫn phù hợp được pháp luật cho phép.
Luật mới cũng bãi bỏ một số thủ tục liên quan đến công nhận tổ chức khảo nghiệm giống cây trồng. Dù vậy, kết quả khảo nghiệm và trách nhiệm của đơn vị thực hiện vẫn phải đáp ứng yêu cầu về tính trung thực và khả năng kiểm tra.
Từ ngày 01/01/2027, một số điều kiện đối với hoạt động buôn bán giống cây trồng và phân bón được bãi bỏ. Luật cũng thay đổi một số thủ tục về công nhận phân bón lưu hành và kiểm tra chất lượng phân bón nhập khẩu.
Cần hiểu đúng rằng:
Điều kiện buôn bán được cắt giảm không đồng nghĩa sản phẩm không còn bị kiểm soát;
Điều kiện sản xuất giống cây trồng vẫn được duy trì;
Điều kiện sản xuất phân bón vẫn được duy trì;
Hành vi kinh doanh hàng giả, hàng không đạt chất lượng hoặc không rõ nguồn gốc vẫn bị xử lý;
Tổ chức, cá nhân vẫn chịu trách nhiệm về sản phẩm đưa ra thị trường.
Giấy chứng nhận, quyết định hoặc hồ sơ đã được cấp, tiếp nhận trước ngày luật mới có hiệu lực có thể được tiếp tục xử lý theo quy định chuyển tiếp.
Do đó, doanh nghiệp không nên tự động hủy hồ sơ, dừng gia hạn hoặc thay đổi quy trình chỉ vì luật mới đã được ban hành. Cần kiểm tra ngày nộp hồ sơ, thời hạn giấy tờ và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Quy định về trồng trọt không nằm trong một văn bản duy nhất. Bên cạnh Luật Trồng trọt, người sản xuất và doanh nghiệp còn phải đối chiếu quy định về giống cây, phân bón, bảo vệ thực vật, đất trồng lúa, nông nghiệp hữu cơ, truy xuất nguồn gốc và xử phạt vi phạm.
Tại thời điểm ngày 03/11/2026, Luật Trồng trọt 2018 sau khi được sửa đổi bởi Luật số 146/2025/QH15 là cơ sở pháp lý đang áp dụng. Luật số 21/2026/QH16 đã được ban hành nhưng các thay đổi của luật này chỉ có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.
Khi sử dụng Văn bản hợp nhất 152/2026, người đọc cần kiểm tra chú thích hiệu lực của từng nội dung, tránh áp dụng trước thời hạn các quy định dành cho năm 2027.
Đọc thêm: Xu hướng nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam 2026
Nguồn: SIAM Brothers Việt Nam. Nội dung pháp lý được tổng hợp từ văn bản của Quốc hội, Chính phủ, Văn phòng Quốc hội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026). Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Trồng trọt và sửa đổi, bổ sung một số thông tư trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. (2019). Thông tư số 19/2019/TT-BNNPTNT quy định việc thu gom, xử lý, sử dụng phụ phẩm cây trồng. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2018). Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2019a). Nghị định số 84/2019/NĐ-CP quy định về quản lý phân bón. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2019b). Nghị định số 94/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trồng trọt về giống cây trồng và canh tác. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2022). Nghị định số 130/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 84/2019/NĐ-CP và Nghị định 94/2019/NĐ-CP. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2024). Nghị định số 112/2024/NĐ-CP quy định chi tiết về đất trồng lúa. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2026a). Nghị định số 33/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Chính phủ. (2026b). Nghị định số 214/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Quốc hội. (2013). Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Quốc hội. (2018). Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Quốc hội. (2025). Luật số 146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Quốc hội. (2026). Luật số 21/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Văn phòng Quốc hội. (2026a). Văn bản hợp nhất số 93/VBHN-VPQH: Luật Trồng trọt. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. vanban.chinhphu.vn
Văn phòng Quốc hội. (2026b). Văn bản hợp nhất số 152/2026/VBHN-LQ-VPQH: Luật Trồng trọt. Công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. congbao.chinhphu.vn
Liên hệ với chúng tôi qua:
Địa chỉ: Tầng 5 tòa nhà VRG Building, 177 Hai Bà Trưng, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Điện thoại: 028 39 912 889
Hotline: 1800 6129
Facebook: www.facebook.com/siambrothersvn
Email: info@sbg.vn
YouTube: youtube.com/@siambrothersvietnam1728
OA Zalo: zalo.me/1402339229697925373
App SBVN ID:
CHPlay: https://bit.ly/SBVNID-Android
Appstore: https://bit.ly/SBVNID-iOS